🎭 Các Công Đoạn Làm Gốm

GV kể tên các sản phẩm của nghành công nghiệp sản xuất đồ gốm, sứ HS thảo luận nhóm ghi lại nội dung thảo luận vào phiếu học tập a) Nguyên liệu sản xuất b) Các công đoạn chính c) Kể tên các cơ sở sản xuất đồ gốm, sứ ở Việt Nam HS đọc SGK, thảo luận nhóm theo Làm ngói âm dương: Ngói âm dương được làm từ đất sét vàng như đất làm gốm và trải qua các công đoạn: Nhồi đất, in phôi, phơi 1 nắng, rập (xếp thành từng hàng, vỗ cho cong thành ngói), vô nề (xếp thành từng hàng riêng), phơi 1 nắng, vô lò nung. Các công đoạn làm gốm - Lò Lu Gốm Bình DươngĐịa chỉ : Lò Lu, Tương Bình Hiệp, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương, Việt NamĐiện thoại : 091 576 46 61 (C Các công đoàn Pháp bắt đầu đình công trên toàn quốc trong bối cảnh lạm phát tăng nóng. Hôm nay, các công đoàn Pháp bắt đầu đình công trên toàn quốc nhằm yêu cầu tăng lương trong bối cảnh lạm phát đạt mức cao nhất trong vài thập kỷ, đặt ra một thách thức khó nhằn Theo phát hiện gần đây của nhóm Atlas VPN, 89% các cuộc tấn công mạng trên toàn thế giới đang nhắm vào Nga và Ukraine. Ngoài ra, một số lượng đáng kể các cuộc tấn công mạng nhắm vào các doanh nghiệp dịch vụ tài chính. Phân tích các nội dung nhằm phát triển tồn diện của con người Việt Nam hiện nay, 2. Đến Quan điểm của Đảng và Nhà nước. Trong suốt quá trình lãnh bảo vệ, xây dựng. đất nước Việt Nam, Đảng ta luôn coi con. người là vốn quý nhất, là mục tiêu, động lực. của cách Nhào đất sét là công đoạn quan trọng trước khi làm gốm. Bước 2: Tạo hình sản phẩm bằng bàn xoay, dụng cụ hỗ trợ, khuôn Sau khi đã chuẩn bị xong nguyên vật liệu và các dụng cụ cần thiết, các em học sinh sẽ chuyển qua công đoạn tạo hình cho sản phẩm. Từ khóa tìm kiếm Google: các bước làm gốm, công đoạn làm sản phẩm gốm, hoạt động sản xuất người dân đồng bằng bắc bộ, quy trình để tạo ra một sản phẩm gốm. Để làm ra được những sản phẩm gốm, người thợ Bát Tràng đã phải trãi qua các công đoạn chọn đất, xử lý-pha chế, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men và nung sản phẩm. Tất cả các công đoạn này đều được tiến hành theo một quy trình nghiêm ngặt. ti9deGI. Để có một sản phẩm gốm đẹp trường tồn theo thời gian thì mỗi nguyên liệu, công đoạn làm gốm đều vô cùng kỳ công và Đất cũng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu. Chọn đất làm gốm sứ Bát Tràng như thế nào? Loại đất được dùng làm gốm là đất sét. Đất sét ở đây có độ dẻo cao. Khó bị tan trong nước. Hạt đất mịn, có màu trắng xám. Chịu được nhiệt lên tới 1650 độ C. Thành phần có nhiều chất như Al203, Si02; Fe203; Na2O, CaO; MgO; K2O; Ti02. Loại đất này dùng để làm gốm rất tốt nhưng cũng có một nhược điểm là chứa hàm lượng oxit sắt khá cao. Khi khô sẽ bị co ngót và không được trắng sáng. Do đó để đất có thể sử dụng làm gốm sứ thì cần phải qua các công đoạn xử lý, xin giới thiệu cùng quý vị cách xử lý đất làm gốm của người Bát Tràng. 1. Phương pháp xử lí, pha chế đất làm gốm sứ Bát Tràng truyền thống Đây là giai đoạn chính, quyết định đồ gốm của bạn có chất lượng như thế nào. Trong đất sét làm gốm thường chứa nhiều tạp chất. Hơn nữa mỗi loại gốm lại yêu cầu thành phần đất khác nhau. Vì vậy cần có cách xử lý, pha chế đất riêng biệt. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lí đất truyền thống nhất là xử lí bằng cách ngâm đất trong hệ thống bể chứa. Được thiết kế gồm 4 bể ở các độ cao khác nhau. Bể thứ nhất ở vị trí cao nhất. Được gọi là "bể đánh". Ở bể này ngâm đất sét thô và nước. Thời gian ngâm kéo dài đến tận 3, 4 tháng. Dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của đất. Đất bắt đầu phân rã. Hay như người làm gốm sứ Bát Tràng vẫn gọi nôm na là đât bị nát ra. Người thợ đất sẽ đánh đất thật đều và tơi. Các hạt đất hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp đất lỏng đồng nhất. Sau đó tháo hỗn hợp này xuống hệ thống bể thứ hai. Được gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Đất sét sẽ lắng xuống đáy. Các tạp chất sẽ nổi lên trên bề mặt. Vớt bỏ các chất này đi ta sẽ thu được đất sét nguyên chất hơn. Tiếp đến là hệ thống bể thứ ba, “bể phơi”. Người Bát Tràng thường phơi đất ở trong bể này khoảng 3 ngày. Sau đó chuyển đất sang"bể ủ" – hệ thống bể cuối cùng. Tại đó, oxit sắt và các tạp chất sẽ bị khử bằng phương pháp lên men. Thời gian ủ càng lâu thì đất thu được có chất lượng càng tốt. Đồ gốm sứ Bát Tràng sẽ càng bền và đẹp. 2. Công nghệ làm đất sản xuất gốm sứ Bát Tràng hiện nay. Ngày nay với những công nghệ hiện đại, quy trình xử lý đất đã tiện dụng hơn rất nhiều. Tiết kiệm khá nhiều công sức và thời gian cho người làm gốm. Đồng thời tăng chất lượng của đồ gốm sứ Bát Tràng lên rất nhiều. Loại đất thô từ mỏ mang về được trộn theo một tỷ lệ đặc biệt. Tỷ lệ pha chế này là một bí quyết được các nghệ nhân đặc biệt giữ kín. Thiết bị được sử dụng để xử lý đất là bình nghiền. Hỗn hợp đất được cho vào bình cùng với một lượng nước vừa đủ. Bình sẽ hoạt động liên tục trong khoảng từ 24 đến 48 giờ để cho ra một loại chất gọi là hồ. Tại đây hồ được khử sắt bằng từ tính bởi một thiết bị đặc biệt. Sau khi khử hết sắt, hồ sẽ được chuyển qua bể chứa hoặc chuyển lên bể lắng. Tại đây sẽ thu lấy đất dẻo nguyên chất. Công đoạn này đem lại hiệu quả đáng kể. Nguồn đất được sử dụng sẽ có chất lượng cao hơn. Ít tạp chất hơn so với cách xử lý truyền thống. Các làng nghề gốm sứ Việt Nam luôn ghi đậm những dấu ấn lịch sử trong văn hóa dân tộc. Cùng với những bước đi thăng trầm của đất nước, gốm Việt vẫn tồn tại và phát triển, đem lại rất nhiều tiện ích cho đời sống. Hãy cùng Sàn Gốm điểm qua các làng gốm Việt Nam tiêu biểu dưới đây nhé! Làng gốm Bát Tràng huyện Gia Lâm, Hà Nội Làng gốm Bát Tràng huyện Gia Lâm, Hà Nội Làng gốm Chu Đậu huyện Nam Sách, Hải Dương Làng gốm Phù Lãng huyện Quế Võ, Bắc Ninh Làng gốm Thanh Hà Hội An Làng gốm Thổ Hà Bắc Giang Làng gốm Phước Tích Thừa Thiên – Huế Làng gốm Bàu Trúc Bình Thuận Làng gốm Cây Mai TP. Hồ Chí Minh Làng gốm Biên Hòa Đồng Nai Làng gốm Vĩnh Long Vĩnh Long Làng gốm Lái Thiêu – Tân Phước Khánh Bình Dương Làng gốm Khmer An Giang Các làng gốm sứ cổ truyền vẫn sống mãi với thời gian Làng gốm Bát Tràng xuất hiện vào khoảng thế kỷ 15, ngay bên cạnh dòng sông Hồng phù sa. Lúc đó, Bát Tràng là một gò đất cao gần cạnh sông. Rất thuận tiện cho việc làm gốm và giao thông đi lại. Trải qua nhiều biến cố, làng gốm xưa vẫn bám trụ vững chắc, ngày càng phát triển. Ngày nay, làng gốm Bát Tràng nằm tại xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Làng gốm Bát Tràng Qua thời gian, gốm Bát Tràng vẫn giữ được những dòng men cổ. Công đoạn tạo dáng đều được làm bằng tay nên xương gốm khá dày, cứng cáp, cầm chắc tay. Lớp men đặc trưng thường ngả màu ngà, đục. Bên cạnh đó còn có một số dòng men riêng độc đáo chỉ có tại Bát Tràng như men xanh, men rạn. Bề dày lịch sử của làng gốm Bát Tràng đã hun đúc một nền văn hóa phong phú. Vì thế các sản phẩm gốm Bát Tràng luôn được tin yêu và lựa chọn. Làng gốm Chu Đậu huyện Nam Sách, Hải Dương Đây là một trong số các làng nghề gốm sứ Việt Nam xuất hiện sớm nhất. Thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương. Ra đời vào thế kỷ 13 và phát triển mạnh từ thế kỷ 14. Nhưng đáng tiếc là vào thế kỷ 17, do chiến tranh loạn lạc mà làng gốm này đã bị suy tàn và thất truyền. Cho đến năm 2001, gốm Chu Đậu được nỗ lực nghiên cứu và phục hồi lại kỹ thuật, chất men, kiểu dáng. Từ đó dần trở mình mạnh mẽ tiếp bút viết lại thời hoàng kim cho làng gốm Chu Đậu. Chịu ảnh hưởng sâu sắc giá trị Phật giáo và Nho giáo, không khó để bắt gặp dấu ấn nhà Phật, bút tích của Lão Tử trong nghệ thuật gốm làng Chu Đậu. Có thể nói đây là điểm khác biệt của người làm gốm nơi đây so với nghệ nhân ở các làng gốm khác. Làng gốm Chu Đậu Gốm ở đây làm từ đất sét trắng vùng Trúc Thôn thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Để gốm đạt được độ trong thuần khiết, người thợ phải lấy đất sét đem đi hòa trong nước và lọc. Sau đó mới đến quy trình làm gốm. Vì vậy, gốm làng Chu Đậu có chất men trắng rất trong. Hoa văn xanh lam nhờ sử dụng men trắng chàm. Hoa văn đỏ nâu, xanh lục vàng nhờ sử dụng men tam thái. Kiểu dáng và họa tiết của hoa văn được thể hiện qua nhiều hình thức như vẽ, khắc, họa, đắp nổi đều phóng khoáng, chân tình. Làng gốm Phù Lãng huyện Quế Võ, Bắc Ninh Làng gốm Phù Lãng thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình hình thành và phát triển cùng với làng Bát Tràng. Nhưng những sản phẩm của gốm Phù Lãng chủ yếu là đồ gia dụng làm từ đất sét đỏ và được tạo hình thủ công trên bàn xoay. Gốm Phù Lãng là gốm men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm… Dân gian hay gọi là men da lươn. Chính đặc điểm này giúp cho Phù Lãng khác biệt với các làng nghề gốm sứ Việt Nam khác. Làng gốm Phù Lãng Bên cạnh đó, cách thợ làm gốm cũng rất đặc trưng. Họ dùng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong. Màu men tự nhiên, bền màu, độc đáo. Kiểu dáng mộc mạc, khỏe khoắn, rất đậm đà văn hóa bản địa. Làng gốm Thanh Hà Hội An Sinh sau đẻ muộn so với Phù Lãng, với tuổi đời khoảng 500 năm, làng gốm Thanh Hà nằm tại Hội An vẫn nổi tiếng với các sản phẩm gốm đất nung bền đẹp. Với nguyên liệu dân dã từ địa phương, người thợ lấy đất sét nâu dọc sông thu Bồn làm chất liệu chính. Loại đất sét nâu này có độ dẻo và kết dính cao. Làng gốm Thanh Hà Hầu hết những sản phẩm của làng gốm Thanh Hà cho ra màu cam thẫm, nâu đỏ nhẹ và xương gốm xốp. Các sản phẩm được tạo bằng khuôn và trang trí khắc lộng. Khi bạn có dịp đến với Quảng Nam và tham quan làng Gốm, sẽ có thể thấy những sản phẩm chủ yếu như tranh, đèn, tượng trang trí… Làng gốm Thổ Hà Bắc Giang Phát triển cùng giai đoạn với làng Bát Tràng và có những đặc điểm khá tương đồng với làng gốm Phù Lãng. Tuy nhiên, nét đặc trưng của gốm Thổ Hà là không dùng men. Sản phẩm được nung ở nhiệt độ cao tự chảy men và thành sành. Làng gốm Thổ Hà Gốm có màu nâu sẫm, một sắc tím than trầm. Gõ thành tiếng cứng như thép gang. Bền và giữ màu tốt theo thời gian sử dụng. Nổi tiếng với những sản phẩm làm từ đất sét vàng, sét xanh, ít sạn và tạp chất dễ tạo hình, gốm mộc phủ men da lươn và chủ yếu là lu, chậu sành… Hiện nay gốm Thổ Hà ở Bắc Giang rất được lòng thị trường bởi đặc tính chắc khỏe mà ít loại gốm nào sánh kịp. Làng gốm Phước Tích Thừa Thiên – Huế Nguyên liệu chủ yếu để tạo ra những sản phẩm gốm sứ tại làng gốm Phước Tích là từ loại đất sét màu xám đen, khá dẻo và dính. Làng nghề này chủ yếu sản xuất gốm gia dụng như lu, chậu, nồi đất, ấm…Với hoa văn đơn giản, hoa tiết bình dị. Phương thức làm gốm của người thợ Phước Tích rất thô sơ như thêu, nề đất, bàn chuốt, bàn xoay hoàn toàn bằng thủ công và tạo hình hoàn toàn bằng tay. Lò nung được dùng chủ yếu là lò sấy và lò ngửa. Làng gốm Phước Tích Gốm Phước Tích từ xưa là làng nghề phục vụ cho Hoàng gia nhà Nguyễn. Nhưng theo thời gian đã dần suy tàn. Hiện tại, các nhà chức trách đang nỗ lực khôi phục làng nghề Phước Tích theo hướng sản xuất mỹ nghệ, nhưng chưa có kết quả khả quan. Làng gốm Bàu Trúc Bình Thuận Làng gốm Bàu Trúc là làng gốm sứ của người Chăm và thuộc loại cổ nhất trong khu vực Đông Nam Á. Gốm của người Chăm đã từng đạt tới thời kỳ đỉnh cao của văn hóa gốm. Không ít các di tích khai quật đã chứng minh điều đó. Gốm Bàu Trúc không phủ men và mang đậm văn hóa bản địa. Hoa văn chạm trổ là những đường khắc vạch sông nước, chấm vỏ sò, hoa văn móng tay mộc mạc, quen thuộc. Làng gốm Bàu Trúc Sản phẩm gốm có màu xương đất và không đồng đều. Vì trong quá trình nung lửa bị cháy táp nhiều. Bên cạnh đó, gốm Bàu Trúc không nung trong lò mà nung ngoài trời bởi củi và rơm từ 700 – 900 độ C. Làng gốm Cây Mai TP. Hồ Chí Minh Gốm Cây Mai nổi lên ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn vào đầu thế kỷ 19. Đây là dòng gốm mỹ thuật do nghệ nhân người Hoa Chợ Lớn chế tác và phát triển cùng những thăm trầm của lịch sử cho đến ngày nay. Căn cứ vào cội nguồn, giới nghiên cứu còn gọi gốm Cây Mai là gốm Sài Gòn nhằm phân biệt với các làng gốm Việt Nam khác. Làng gốm đa dạng sản phẩm và mang tính đặc trưng riêng. Làng gốm Cây Mai Chúng có sự kết hợp giữa các màu sắc nổi bật như coban, xanh rêu, nâu da lươn. Mang đến sự tinh tế trong từng sản phẩm. Cho đến nay, gốm Cây Mai đã không còn tồn tại. Dù vậy bạn vẫn có thể bắt gặp chúng ở những bức tường ở một số chùa của quận 5, quận 6. Làng gốm Biên Hòa Đồng Nai Gốm Biên Hòa là sự kết hợp giữa gốm Cây Mai và nghệ thuật trang trí gốm nước Pháp. Được làm từ cao lanh và đất sét màu. Những sản phẩm chủ yếu là chậu, voi, con thú hay tượng. Không như các làng gồm ở Đồng bằng Sông Hồng, làng gốm Biên Hòa nổi tiếng bởi nghệ thuật khắc chìm, vẽ men kết hợp với màu men tạo nên một sản phẩm độc đáo, tinh xảo. Làng gốm Biên Hòa Hơn nữa gốm Biên Hòa là loại xốp, có xương đất màu ngà. Thợ gốm không nung với nhiệt độ lớn như các làng nghề gốm sứ Việt Nam khác. Họ chỉ nung nhẹ trên lửa để màu gốm vẫn nguyên sơ như vẻ ban đầu. Làng gốm Vĩnh Long Vĩnh Long Làng gốm Vĩnh Long nằm dọc bờ sông Cổ Chiên. Với hàng nghìn lò gạch, lò gốm chen chúc nhau như nấm sau mưa, nối dài hàng chục km. Những dòng phù sa tụ lại Vĩnh Long góp phần hình thành cho nơi đây những mỏ đất sét quý giá. Làng gốm Vĩnh Long Tận dụng lợi thế địa phương, gốm Vĩnh Long có nguyên liệu chính là đất sét đỏ. Với đặc tính nhiễm phèn nên khi nung xong thì gốm Vĩnh Long thường xuất hiện các vân trắng. Ngoài ra, đất Vĩnh Long chỉ kết khối ở 900 độ C. Những đặc điểm này đã tạo nên nét rất riêng cho làng nghề nơi đây. Sản phẩm chủ yếu của làng gốm là đồ gia dụng như chậu, chum, vãi, khạp. Nhằm mục đích phục vụ cho đời sống và một vài loại có giá trị xuất khẩu. Làng gốm Lái Thiêu – Tân Phước Khánh Bình Dương Làng Gốm Lái Thiêu – Tân Phước Khánh – Thủ Dầu Một Bình Dương xuất hiện kế thừa tinh hoa của gốm Cây Mai vào cuối thế kỷ 19. Nhờ vào nguồn đất sét cao lanh và nguyên liệu củi đốt dồi dào sẵn có nên đã hình thành nên làng gốm sứ. Tuy nhiên, ngày nay, Gốm Lái Thiêu đã không còn tồn tại. Thay vào đó là sự phát triển theo quy mô công nghiệp và xu hướng thị trường. Vậy nên, những dấu tích cũ của làng gốm Lái Thiêu hầu như không còn. Làng gốm Lái Thiêu Lúc gốm Lái Thiêu hưng thịnh, tất cả các sản phẩm đều được làm bằng tay và nung bằng lò củi truyền thống. Vết tích để lại chỉ cho biết gốm Lái Thiêu chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt thường ngày ở vùng Đông Nam Bộ. Hiện nay, sản phẩm định hướng xuất khẩu nên gốm Bình Dương đã đi theo hướng sản xuất công nghiệp. Đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhằm mang đến những sản phẩm chất lượng đạt tiêu chuẩn cao. Làng gốm Khmer An Giang Gốm Khmer có thể nói là gốm mùa vụ bởi việc làm gốm thường diễn ra lúc nông nhàn. Bạn sẽ thấy điều khác biệt ở đây chính là sẽ ít có sự tham gia của người đàn ông. Bởi công việc này hầu như do những người phụ nữ lớn tuổi và có kinh nghiệm đảm nhiệm. Phụ nữ Khmer sẽ lấy đất ở ven núi Nam Quy – đất sét xám pha với cát mịn để làm gốm. Họ không dùng bàn xoay, mà chỉ dùng một mặt bàn nhỏ, phẳng để làm các công đoạn tạo hình. Đây cũng là kỹ thuật làm gốm khá nguyên thuỷ còn lưu giữ ở một số ít các dân tộc thiểu số Việt Nam. Làng gốm Khmer Gốm nung có màu đỏ nhạt hoặc vàng sậm, độ nung thấp. Nghệ nhân nơi đây chú trọng đến vẻ nguyên sơ và hoang dã của sản phẩm hơn là các làng nghề gốm sứ Việt Nam khác. Vì vậy, gốm cổ truyền Khmer mang đậm nét văn hóa hòa quyện giữa hồn đất và hồn người Khmer trên mảnh đất Việt. Khi đến với làng gốm Khmer, người xem sẽ cảm nhận được sự chất phác chân thật của người bản địa qua những tác phẩm gốm sứ mộc mạc. Các làng gốm sứ cổ truyền vẫn sống mãi với thời gian Thăng trầm của thời gian và lịch sử lấy đi một vài nét trong văn hóa gốm. Nhưng cũng tạo cơ hội cho các làng nghề gốm sứ Việt Nam tiếp tục kế thừa tinh hoa và phát triển đi lên. Dù là hưng thịnh hay suy tàn thì những làng gốm Việt vẫn có những con người, vì văn hóa dân tộc mà không ngừng nâng cao tay nghề và chất lượng sản phẩm của làng họ. Tất cả làm nên bản đồ làng gốm Việt Nam vô cùng đặc sắc và đáng quý mà Sàn Gốm sứ đã chia sẻ ở trên. Những sản phẩm gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng với những đường nét, hoa văn được tạo nét tinh xảo, mang tính thẩm mỹ cao. Sản phẩm làm từ gốm sứ Bát Tràng được làm từ những nguồn nguyên liệu tốt vì thế chất lượng được đánh giá cao cùng với những nét đặc trưng riêng, điểm nhấn ấn tượng gắn liền với văn hóa, phong tục người Việt. Để làm ra được những sản phẩm tốt và đạt được chất lượng, người nghệ nhân họ cần có đủ tay nghề cũng như kỹ năng tốt và nắm vững những quy trình, công đoạn không hề dễ dàng. Hôm nay với sự chia sẻ của những người trong nghề làm gốm, chúng ta sẽ có cái nhìn chi tiết và thực tế hơn về quy trình làm gốm sứ Bát Tràng trải qua 5 công đoạn như thế nào? Những tác phẩm nghệ thuật là những sản phẩm được làm qua nhiều công đoạn và tốn khá nhiều thời gian cũng như công sức của người nghệ nhân. Gốm Bát Tràng được biết đến với chất lượng tốt, hoa văn đường nét được chế tác tinh tảo và sang trọng. Nguyên liệu để làm gốm sứ Bát Tràng Gốm sứ Bát Tràng sử dụng nguồn nguyên liệu chính từ đất sét trắng hay còn được biết đến với cái tên khác là Cao Lanh, với tính chất dẻo cao, loại đất sét có nhiều tại Trúc Thôn, nơi cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho các sản phẩm gốm Bát Tràng. Loại đất sét này được biết đến với một độ dẻo cao, khó hoặc hầu như không tan nhiều trong nước, các hạt đất sét với độ mịn đàn hồi cao, màu sắc đặc trưng là màu trắng hơi ngả xám và chịu được nhiệt độ nung nóng khá cao lên đến 1650 độ C, cho ra thành phẩm có độ bền cao, chắc chắn. Đất sét trắng hay Cao lanh là loại đất được sử dụng trong việc tạo nên các sản phẩm gốm sứ Bát Trang. Cao lanh có độ dẻo, hạt mịn và chịu được nhiệt độ nung cao. Giá sản phẩm sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại nguyên liệu sử dụng. Có 2 loại Cao Lanh hay được sử dụng với các sản phẩm gốm Bát Tràng. Loại tốt khi lên thành phẩm tạo cho bề mặt men sứ sáng bóng, đó là những sản phẩm được biết ở đây là loại gốm sứ men khử cao cấp. Loại còn lại là loại thường, sản phẩm được tạo thành có màu trắng sẫm, bề mặt cũng như độ tinh xảo không được cao như loại trên. 5 công đoạn chính của nghề làm gốm sứ Làm đất thấu đất Ở giai đoạn này, quan trọng nhất là chọn được loại đất cao lanh tốt và phù hợp. Sau khi lựa chọn kỹ lưỡng, người nghệ nhân sẽ đem đất tinh luyện qua nhiều công đoạn cần thiết, từ đó chọn ra được những nguyên liệu tốt nhất để sử dụng làm gốm. Những loại đất thô sau khi khai thác còn khá rắn và cứng, cần làm ẩm bằng nước cho no đất, sau đó thái mỏng từng lớp. Bắt đầu loại bỏ hầu hết các loại tạp chất lẫn bên trong, dùng chân nhào liên tục và đắp lên thành từng đóng lớn. Công đoạn thái lát được thực hiện nhiều lần nhân tạo cho đất có độ mịn và dẻo hơn. Với cách làm này người ta gọi theo tiếng lành nghề là thấu đất. Tạo hình chuốt gốm Sau khi đã có nguyên liệu cũng như trải qua giai đoạn thấu đất. Nguyên liệu đất tốt nhất sẽ được mang đến để tạo hình. Với giai đoạn này, người ta có 3 phương pháp chính là tạo hình bằng bàn xoay; bằng khuôn và thực hiện thủ công bằng tay. Tạo hình bằng tay thủ công những chi tiết thể hiện rõ điều này thông qua sự tinh xảo của những con kê, đỉnh gốm, bao nung, nhiều thể loại hình hài, thú chạm… Sử dụng bàn xoay để tạo hình và chuốt lại cho sản phẩm. Kiểu dáng, kích thước phụ thuộc vào bàn tay lành nghề của người thợ. Sử dụng bàn xoay tạo hình Đất sau khi được luyện kỹ vừa và có độ dẻo, sẽ được nặn thành sợi dây dài to với kích thước tương đương cổ tay. Người nghệ nhân sẽ chuốt ngắt từng đoạn, khoanh trũng ở ngay giữa bàn xoay, dùng chân phải đạp bàn liên tục để cho bàn xoay, hai tay bắt đầu chuốt cho sản phẩm thành hình. Đến đây hình dáng, kích thước, tạo hình sẽ được thực hiện chủ yếu do bàn tay người thợ, sẽ có sự xê dịch nhất định trong mức độ cho phép. Cách tạo hình bằng bàn xoay này, thường dùng được dung trong sản xuất những sản phẩm gốm có kích thước lớn như Chum, lọ, bình, âu… Tạo hình bằng khuôn dễ thấy các loại có số lượng sản xuất lớn thường sử dụng theo cách làm này để tiết kiệm được thời gian, công sức như bát, chén, đĩa, muỗng,… Trang trí hoa văn Vẽ trên gốm bao gồm có kỹ thuật vẽ trên men và vẽ dưới men. Thợ thủ công sẽ sử dụng loại nút lông chuyên dụng và vẽ trực tiếp lên các họa tiết hoa văn. Cần thực hiện cẩn thận, đảm bảo đường nét, họa tiết phải trong hài hòa với hình dạng của gốm, cần độ chính xác cao với những người lành nghề và tỉ mỉ. Sau khí sản phẩm được chuốt và phơi nắng cho khô, thợ sẽ tiến hành vẽ, khắc vạch lên phần xương của gốm trước khi đem vào nung. Cắt gọt và khắc vạch sản phẩm gốm, sản phẩm sẽ được gọt, sửa hay cạo nhẫn,… sau khi đã được chuốt xong mà phơi nắng cho khô. Nghệ nhân sẽ tiến hành vẽ hoặc khắc vạch ngay trên phần xương gốm và đem đi nung. Ở giai đoạn này, chủ yếu sẽ tiến hành với các chi tiết như phần quai, tai, hoặc các họa tiết trang trí nổi,.. Còn một số sản phẩm khác, người ta sẽ in khuôn để tạo nên các hoa văn, họa tiết được khắc chìm vào trong xương gốm. Dễ hình dung nhất và có thể tìm thấy trên các sản phẩm men ngọc, men hoa nâu… Tráng men Tráng men lên lên sản phẩm gốm có thể được thực hiện trước hoặc sau khi nung ở nhiệt độ thấp. Người thợ thường ưa chuộng với việc tráng men lên sản phẩm mộc chưa qua nung. Bụi sẽ được làm sạch trên các bề mặt, và sẽ lót thêm một lớp men lên các họa tiết đã có màu trước khi tráng men lên toàn bộ. Mỗi chi tiết sẽ được tính toán kỹ lưỡng, sử dụng loại men cho phù hợp, nồng độ mên… Các sản phẩm gốm với kích thước nhỏ được nhúng trực tiếp vào men để tạo lớp màn bảo vệ bên ngoài cũng như làm sáng lên phần thân của sản phẩm. Để tráng men lên sản phẩm cũng sẽ có nhiều hình thức thực hiện khác nhau như phu men, dội đối với sản phẩm gốm có bề mặt lớn, còn với những loại có kích thước nhỏ, người ta sẽ nhúng vào men. Ngoài ra còn có láng men hay kìm men, quay men và đúc men. Sau cùng, người thợ sẽ tiến hành kiểm tra và chỉnh sửa lại sản phẩm sao cho hoàn chỉnh nhất trước khi được mang vào lò nung. Sửa hàng men được dùng với giai đoạn này, hiểu nôm na thì là loại bỏ các bộ phận dư thừa lần cuối. Nung sản phẩm gốm Phổ biến dùng trong nung gốm hay được biết đến là lò cóc, lò bầu hay lò hộp. Sản phẩm gốm cuối cùng sau khi được trau chuốt lại, trang trí, tráng men và trở thành sản phẩm hoàn thiện, không có chi tiết thừa, sẽ được cho vào lò nung với nhiệt độ phù hợp. Nhiệt độ nung gốm cũng sẽ tùy thuộc vào dạng gốm của từng loại sản phẩm. Chẳng hạn đất nung nhiệt độ dao động 600 – 900 độ C, sành được nung từ 1100 – 1200 độ C, còn với sành xốp thì 1200 – 1250 độ C…

các công đoạn làm gốm